Nghiên cứu độc tính cấp tính và độc tính mãn tính của Ayuric® (P2)

Nghiên cứu độc tính cấp tính và độc tính mãn tính của Ayuric® (Phần 2)

Ở phần 1, chúng ta đã có những giới thiệu tổng quan về Ayuric® và thông tin sơ lược về bố trí thí nghiệm nghiên cứu độc tính ở nó. Bài viết dưới đây sẽ là những kết quả ghi nhận được khi nghiên cứu độc tính cấp tính và độc tính mãn tính của Ayuric®

Kết quả theo dõi cho thấy tất cả chuột có sử dụng Ayuric® đều có hành vi chung bình thường, hệ hô hấp, tim mạch, khả năng vận động, phản xạ không có dấu hiệu bất thường. Chuột cái sử dụng Ayuric® không có sự khác biệt về trọng lượng và tốc độ tăng trưởng so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, trọng lượng và tốc độ tăng trưởng của chuột đực sử dụng Ayuric® lại giảm đáng kể so với nhóm đối chứng (Hình 1).

Hình 1: Trọng lượng cơ thể chuột trong nghiên cứu độc tính mãn tính Ayuric® (* p<0.05:  khác biệt có ý nghĩa thống kê)

nghiên cứu độc tính của Ayuric hạ acid uric -1

Xét nghiệm huyết học được thực hiện nhằm đánh giá độc tính trên tủy xương. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa chuột cái dùng Ayuric® và chuột cái đối chứng (Bảng 1). Tuy nhiên, huyết sắc tố trung bình (MCH) ở chuột đực sử dụng Ayuric® với liều 600mg/kg lại giảm đáng kể (Bảng 1). Đối với chuột cái trong nhóm thử độc tính, có sự gia tăng đáng kể về bạch cầu trung tính và giảm đáng kể tế bào Lympho. Chuột đực trong nhóm sử dụng Ayuric® liều 300mg/kg và 600mg/kg lại có sự gia tăng đáng kể bạch cầu. Ngoài ra, chuột đực trong nhóm sử dụng liều 600mg/kg  còn giảm đáng kể tế bào lympho so với nhóm đối chứng (Bảng 2)

Bảng 1: Ảnh hưởng của Ayuric® đối với các chỉ số huyết học của chuột cái và chuột đực trong nghiên độc tính mãn tính (* p

nghiên cứu độc tính của Ayuric hạ acid uric -2

Bảng 2: Ảnh hưởng của Ayuric® đối với các chỉ số bạch cầu khác nhau của chuột cái và chuột đực trong nghiên độc tính mãn tính (* p

nghiên cứu độc tính của Ayuric hạ acid uric -3

Xét nghiệm hóa sinh được thực hiện nhằm đánh giá độc tính đối với gan, thận và tuyến tụy. Kết quả cho thấy nồng độ glucose ở chuột cái nhóm sử dụng liều 300 mg/kg và liều 600 mg/kg tăng đáng kể; bên cạnh đó, ở nhóm thử độc tính, có sự suy giảm albumin, bilirubin tổng, bilirubin trực tiếp, AST và sự gia tăng ALP (Bảng 3). Ở chuột đực sử dụng liều 120mg/kg, có sự tăng tổng lượng protein

Bảng 3: Ảnh hưởng của Ayuric® tới chỉ số hóa sinh máu của chuột cái và chuột đực trong nghiên cứu độc tính mãn tính(* p

 nghiên cứu độc tính của Ayuric hạ acid uric -4

Kết quả kiểm tra mô bệnh học cho thấy chuột sử dụng Ayuric® có cấu trúc, kích thước, hình dạng, màu sắc và kết cấu của nội tạng (thận, gan, tuyến thượng thận, cơ quan sinh dục, tuyến ức, dạ dày, ruột, cơ, tuyến tụy, não và tủy sống) bình thường. Chuột đực nhóm sử dụng liều 600 mg/kg có sự giảm khối lượng não, phổi, tim, gan, thận; chuột đực nhóm sử dụng liều 1200 mg/kg có sự giảm khối lượng tim và lách trong khi chuột đực nhóm thử độc tính có khối lượng thận tăng đáng kể. (Bảng 4)

Bảng 4: Ảnh hưởng của Ayuric® đối với trọng lượng cơ quan nội tạng của chuột cái và chuột đực trong nghiên cứu độc tính mãn tính (* p

nghiên cứu độc tính của Ayuric hạ acid uric -5

Như vậy, sau khi hoàn thành nghiên cứu độc tính của Ayuric® bao gồm cả độc tính cấp tính và độc tính mãn tính, có thể thấy Ayuric® hầu như không gây độc tính cấp tính hay độc tính mãn tính cho chuột. Liều cao 5000 mg/kg không gây bất kỳ dấu hiệu độc tính hay sự thay đổi đáng kể nào về trọng lượng cơ thể, trọng lượng nội tạng và hành vi chung của chuột. Nghiên cứu độc tính mãn tính trong 270 ngày ở các liều 300 mg/kg, 600 mg/kg, 1200 mg/kg cũng không có dấu hiệu độc tính, thay đổi hành vi và tử vong trên tất cả chuột. Mặc dù tốc độ tăng trưởng của chuột đực khi sử dụng các liều Ayuric® trong nghiên cứu độc tính mãn tính đều thấp hơn nhóm đối chứng, tuy nhiên trọng lượng cơ thể và tốc độ tăng trưởng còn chịu ảnh hưởng của những thay đổi sinh lý như tăng giảm thức ăn, trao đổi chất. Một số chỉ số huyết học của nhóm sử dụng Ayuric® có sự thay đổi đáng kể so với nhóm đối chứng như hồng cầu, hematocrit, MCV, MCHC, tế bào lympho, bạch cầu mono, và bạch cầu ưa axit nhưng những giá trị này đều nằm trong giới hạn bình thường. Điều này cho thấy Ayuric® không gây độc tính cho máu và hệ miễn dịch. Trong nghiên cứu độc tính mãn tính cũng cho thấy có một số thay đổi đáng kể về các chỉ tiêu hóa sinh của nhóm sử dụng dịch Ayuric® so với nhóm đối chứng, tuy nhiên những thay đổi này cũng vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Những kết quả này cho thấy rằng Ayuric® không gây độc tính đến chức năng gan, thận và tuyến tụy. Kiểm tra tổng thể và bệnh lý của các cơ quan nội tạng cũng cho thấy không có sự tổng thương lớn hoặc nhỏ nào trong các cơ quan nội tạng hoặc mô ở bất kỳ con chuột sử dụng Ayuric®.


Ayuric® là một phát kiến mới trong ngành dược và thực phẩm chức năng với tác dụng hạ nồng độ Acid uric trong máu hiệu quả. Ayuric® có nguồn gốc thực vật (chiết xuất từ cây bàng hôi), đã được thử nghiệm lâm sàng và đạt được các chứng nhận Organic, Kosher, Halal, GRAS, tiền DSHEA.

Ayuric® được ứng dụng trong các loại TPCN giúp hỗ trợ điều trị bệnh gout.

Thông tin chi tiết về nguyên liệu Ayuric® hạ acid uric máu, vui lòng liên hệ:

Hotline CSKH: 0947 805 345 | Email: info@thiennguyen.net.vn

Thiên Nguyên - Đồng hành cùng Doanh nghiệp