So sánh sinh khả dụng của Silybin phytosome và Silybin trong Silymarin

So sánh sinh khả dụng của Silybin phytosome và Silybin trong Silymarin

Như các nghiên cứu của Indena đã báo cáo, Silybin và Silymarin không có cùng một ý nghĩa. Silymarin là một phức hợp của ít nhất bảy flavonolignans – nhóm hợp chất phổ biến nhất có trong chiết xuất cây kế sữa – và một flavonoid, taxifolin. Hàm lượng của mỗi hợp chất có thể khác nhau tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu thực vật và quy trình chiết xuất. Silybin chiếm khoảng 50% đến 70% chiết xuất Silymarin và thể được chia thành hai đồng phân tỷ lệ 1:1 là A và B. Ngoài ra, Silybin có thể tồn tại dưới dạng isoSilybin, hỗn hợp 1: 1 gồm hai đồng phân, isoSilybin A và isoSilybin B. Nồng độ của Silybin trong các dược phẩm chứa Silymarin có mặt ở Mỹ và các quốc gia khác dao động từ 20% đến 40%.

So sánh Silybin và Silymarin trong cây kế sữa

Flavonolignans được biết đến với khả năng sinh học kém và thất thường, ví dụ như mức độ hấp thụ Silymarin thay đổi từ 20% đến 50%. Silybin đã được tách riêng trong thương mại như một chất nguyên chất. Các nghiên cứu đặc tính dược động học của Silybin bằng phương pháp HPLC đã chỉ ra rằng: mối quan hệ giữa sự đáp ứng và nồng độ là tuyến tính trong phạm vi nồng độ 0,5-100 g/mL.

Xem thêm: Nghiên cứu ảnh hưởng của tổn thương gan lên dược động học của Silybin

Khả năng hấp thu của Silybin ở một số dạng dẫn xuất khác nhau

Sau khi dùng cho chuột, sự phân bố Silybin trong huyết tương và dịch mật là do sự phân phối và cân bằng nhanh giữa máu và hệ thống gan mật, và nồng độ trong dịch mật của dạng không liên hợp và tổng Silybin là lớn hơn so với huyết tương.

Tương tự như các flavolignans khác, các yếu tố làm hạn chế tỷ lệ sử dụng Silybin là độ hòa tan trong nước thấp, sinh khả dụng thấp và khả năng hấp thụ đường ruột kém. Để khắc phục các yếu tố này, các dẫn xuất hòa tan tốt hơn của Silybin như: bis-hemisuccinate, phức hợp beta-cyclodextrin, N-methyl-glucamine, 11-O-phosphate và phosphatidylcholine. Một chiến lược khác để cải thiện khả năng hòa tan của Silybin là sử dụng enzyme để gắn thêm các nhóm b-glycosides, chẳng hạn như beta-galactoside, beta-glucoside, beta-maltoside và beta-lactoside. Một tiền thuốc hòa tan tốt của Silybin cũng đã được tổng hợp với chất mang polyme hòa tan tốt trong nước (polyethylen glycol).

Một số liên hợp có thể ảnh hưởng một phần đến tác dụng của Silybin. Ví dụ, tác dụng dọn gốc tự do dạng 20-O-beta-D-glucuronide thấp hơn đáng kể so với dạng tự do. Ngược lại, sự gia tăng đáng kể trong tác dụng dọn gốc tự do được quan sát thấy trong chất liên hợp khác của dạng 7-O-beta-D-glucuronide, trong đó vị trí C-20 không có liên kết. Sự gia tăng trong tác dụng dọn gốc tự do ở chất liên hợp sau không thể đơn giản xác định là do bổ sung nhóm glucuronyl. Do đó, sự thay đổi trong tác dụng chống gốc tự do phải là kết quả của sự thay đổi cấu trúc một cách tổng thể. Một điều khá thú vị là một đồng phân của Silybin (B) trải qua quá trình liên hợp nhanh hơn so với đồng phân còn lại (A); sự khác biệt này chỉ ra rằng hai đồng phân của Silybin được chuyển hóa ở các tốc độ khác nhau. Những phát hiện này sẽ hỗ trợ sự phát triển của các công thức Silybin cải tiến được thiết kế để ức chế sự liên hợp vị trí C-20 hoặc để điều chỉnh chế độ liều nhằm duy trì Silybin huyết tương tự do ở mức hợp lý. Cả Silybin tự do và liên hợp đều có sự phân phối vào mô và huyết tương nhanh chóng, đạt mức tối đa trong vòng một giờ sau khi chỉ định liều 50 mg/kg Silybin ở chuột. Liên kết protein của Silybin trong huyết tương chuột là 70,3% ± 4,6%.

So sánh sự hấp thu của Silybin và Silybin phytosome ở người

Silymarin phytosome

Ở người, dược động học của Silybin được đánh giá sau khi dùng Silymarin, Silybin nguyên chất và Silybin dạng phytosome với các mức liều khác nhau ở những tình nguyện viên khỏe mạnh. Hoh và cộng sự lần đầu tiên xác định được các chất chuyển hóa trong huyết tương và đo nồng độ ở mô của Silybin ở người đã dùng nó. Họ chứng minh rằng:

Silybin trải qua nhiều phản ứng liên hợp ở người và đã xác định được cụ thể các loại liên hợp: Silybin monoglucuronide, Silybin diglucuronide, Silybin monosulfate và Silybin glucuronide sulfate. Việc sử dụng ở người liều 240 mg Silybin nguyên chất cho nồng độ cao nhất là 240 ± 54 mg/mL trong khoảng 2 giờ và tồn tại trong 4 giờ.

Silymarin 560 hoặc 600 mg sau khi dùng một liều duy nhất (tương đương với tổng số 240 mg Silybin), các tỷ lệ Silybin tự do, sunfat và glucuronidated trong huyết tương người là khoảng 17%, 28% và 55% so với tổng liều. Trong đó, tỷ lệ Silybin B glucuronide hóa (71%) trong huyết tương cao hơn so với Silybin A glucuronide hóa. Tổng tỷ lệ phần trăm của liều thu được trong nước tiểu, dưới dạng tự do và liên hợp, là rất thấp, từ 1% đến 7% liều (trung bình: 2,8 ± 0,6 ng / mL).

Silybin phytosome: Phức hợp phytosome gần đây đã được điều chế với việc bổ sung vitamin E (Indena, IBI-Lorenzini spa Italy: Realsil) giúp tạo ra độ hòa tan lớn hơn của Silybin, như được báo cáo trong bảng dưới đây trong 12 tình nguyện viên khỏe mạnh ở độ tuổi 20-53  được dùng dưới dạng Realsil ở hai dạng bào chế (viên nang và cốm, cả hai đều tương ứng với 47 mg Silybin) . Cụ thể:

 

Silybịn phytosome

Silymarin (40% Silybin)

Nồng độ đỉnh (ng/mL)

298 ± 96

102 ± 22

Thời gian đạt nồng độ đỉnh (h)

1.6 ± 0.3

1.4 ± 0.3

Thời gian duy trì trung bình (h)

3.6 ± 0.4

3.5 ± 0.4

AUC (ng/mL/h)

881 ± 207

257 ± 66

Liều sử dụng (mg)

47

560 hoặc 600

Kết luận

Nhìn vào số liệu có thể thấy Silybin phytosome sử dụng với  liều ít hơn 5 lần so với Silybin nhưng cho sinh khả dụng cao gấp 3.5 lần cùng với các chỉ số về thời gian đạt nồng độ đỉnh và thời gian duy trì trung bình tương đương nhau thì Silybin phytosome đang cho kết quả sinh khả dụng cao hơn khoảng 17.5 lần so với Silybin.


 

Silybin là thành phần hoạt chất chính của Silymarin - chiết xuất kế sữa (hay cao khô kế sữa). Công ty CP Dược phẩm Thiên Nguyên hiện đang nhập khẩu và phân phối cả 2 dạng nguyên liệu Silymarin và Silymarin Phytosome.

Chi tiết xem thêm tại đây hoặc liên hệ:

Hotline CSKH: 0947 805 345 | Email: info@thiennguyen.net.vn

Thiên Nguyên - Đồng hành cùng Doanh nghiệp