Liệu pháp bổ trợ sử dụng Curcumin dạng sinh khả dụng cao nhằm ức chế viêm hệ thống và cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân có khối u rắn

Liệu pháp bổ trợ sử dụng Curcumin dạng sinh khả dụng cao nhằm ức chế viêm hệ thống và cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân có khối u rắn

Viêm mãn tính được biết đến như một tác nhân chính gây ra một số loại ung thư. Viêm làm thúc đẩy sự tiến triển của khối u bằng cách ảnh hưởng tới sự tồn tại, tăng sinh, xâm lấn, hình thành hệ thống mạch mới, di căn của tế bào ung thư và sự đề kháng với hóa trị liệu và xạ trị. Trong hầu hết các cơ quan, ung thư thường là kết quả của một bệnh viêm, ví dụ: ung thư biểu mô tế bào gan sau viêm gan, ung thư đại trực tràng sau viêm loét đại tràng và ung thư tuyến tiền liệt sau viêm tuyến tiền liệt. Mối liên hệ giữa viêm và ung thư thông qua hoạt động của cytokines và các chất trung gian hóa học khác. Trong đó, con đường NF-κB có vai trò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển khối u. Đo lường phản ứng viêm hệ thống cũng giúp dự đoán sự sống sót của nhiều bệnh ung thư và giới hạn phản ứng của bệnh nhân đối với liệu pháp chống ung thư. Chính vì vậy, các tác nhân chống viêm đang ngày càng được quan tâm trong điều trị ung thư. Các tác nhân được nghiên cứu rộng rãi nhất hiện nay gồm có corticoids, cyclooxygenase (COX-II), thuốc kháng viêm không steroid và các chất chống viêm có nguồn gốc thiên nhiên. Curcuminoids - một polyphenol có nguồn gốc từ củ nghệ - là tác nhân chống Oxy hóa được quan tâm rất nhiều hiện nay. Nhiều công trình nghiên cứu tiền lâm sàng chứng minh tác dụng chống oxy hóa của Curcuminoids đã được công bố, tuy nhiên số lượng các thử nghiệm lâm sàng còn rất ít và thu được kết quả khiêm tốn dù đã dùng ở liều lượng cao. Nguyên nhân chính là do sinh khả dụng của Curcuminoids rất thấp, hạn chế đáp ứng điều trị với các phytochemicals. Cùng với thử nghiệm lâm sàng “nghiên cứu về tác dụng chống oxy hóa của Curcumin dạng sinh khả dụng cao trên bệnh nhân có khối u rắn” được đăng trên tạp chí Journal of function foods 6 (2014) (615-622 (dẫn link)), nhóm tác giả đến từ Đại học Khoa học Y tế Baqiyatallah, Tehran, Iran và Đại học Y khoa Mashhad, Mashhad, Iran đã tiến hành một thử nghiệm nghiệm lâm sàng mù đôi có đối chứng khác nhằm đánh giá tác dụng chống viêm và cải thiện chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân có khối u rắn của Curcumin. Thử nghiệm này được đăng tải trên Wiley Online Library.

Curcumin

Thiết kế của nghiên cứu là một thử nghiệm lâm sàng mù đôi có đối chứng placebo, được tiến hành tại Phòng Khám Ung Thư của Bệnh Viện Baqiyatallah, Tehran, Iran. Đối tượng tham gia bao gồm cả nam và nữa giới ở độ tuổi từ 25-65 và có khối u rắn, trừ các đối tượng mẫn cảm với chế phẩm có nguồn gốc thảo dược, không dùng thuốc trong hơn 2 tuần, không dung nạp hóa trị liệu, xuất hiện các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng trong quá trình điều trị và làm bệnh trầm trọng thêm vượt quá mức kiểm soát. Các đối tượng được chọn ngẫu nhiên vào 2 nhóm. Nhóm 1 (n=47) sử dụng Curcuminoids (180mg/ngày), nhóm 2 (n=49) sử dụng giả dược trong khoảng thời gian 8 tuần. Tất cả bệnh nhân vẫn tiếp tục duy trì hóa trị liệu tiêu chuẩn trong thời gian thử nghiệm. Bệnh nhân được thăm khám, hỏi về sự tuân thủ điều trị và phân phát thuốc 2 tuần 1 lần. Curcuminoids được sử dụng là Meriva®- Curcuminoids dạng phức hợp phytosome với lecithin, đã được chứng minh sinh khả dụng cao gấp nhiều lần Curcumin đơn độc.

⇒ Bạn có biết  Meriva® là gì?

Chỉ tiêu đánh giá của nghiên cứu bao gồm các thông số sinh hóa máu liên quan tới quá trình viêm và điểm số chất lượng cuộc sống (QoL). Mẫu máu dùng để phân tích sinh hóa là mẫu máu khi đói, được lấy ở thời điểm đầu và khi kết thúc thử nghiệm, ly tâm ở 750g trong 10 phút, thu huyết thanh và bảo quản ở -80°C. Các thông số sinh hóa được quan tâm gồm có: IL-6, IL-8, calcitonin gene-related peptide (CGRP), TNF-α, monocyte chemotactic protein-1 (MCP-1), transforming growth factor-β (TGFβ), chất P and protein phản ứng siêu nhạy C (hs-CRP). Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang điểm của Đại học Washinton phiên bản 4 (2006) với điểm số từ 0 đến 100 cho mỗi mục. Điểm tổng hợp là trung bình của 12 mục. Phân tích kết quả thống kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS phiên bản 11.5, T-test (trong trường hợp phân phối bình thường dữ liệu) hoặc Mann-Whitney U-test (trong trường hợp phân phối dữ liệu không bình thường).

Kết quả: Có 40 đối tượng ở mỗi nhóm hoàn thành nghiên cứu, 7 người thuộc nhóm Meriva® và 9 người thuộc nhóm Placebo đã từ bỏ thử nghiệm. Sự khác biệt giữa tỷ lệ người từ bỏ ở 2 nhóm không đáng kể (p>0,05). Có sự tương đồng về các đặc điểm cơ bản của đối tượng bao gồm tuổi, cân nặng, giới tính, thói quen hút thuốc và lịch sự xạ trị ở 2 nhóm (p>0.05) (Bảng 1). Kết quả điều trị với Meriva® an toàn và dung nạp tốt. Tám đối tượng có phản ứng phụ nhẹ dạ dày-ruột do sử dụng curcuminoids. Không có sự từ bỏ nào là do phản ứng bất lợi. Các dạng ung thư chủ yếu ở cả 2 nhóm Meriva® và placebo là đại trực tràng, vú và dạ dày. Phác đồ hóa trị liệu thường được sử dụng cho các loại ung thư này là docetaxel-cisplatin-5-FU (ung thư dạ dày và ung thư vú), topotecan-cyclophosphamide-etoposide (ung thư vú), cyclophosphamidemethotrexate-5-FU (ung thư vú) và 5-FU (ung thư đại trực tràng).

 

Curcuminoids (Meriva®)

Placebo

p

n

40

40

 

Tuổi

59.58±14.63

58.33±16.10

0.724

Nữ (%)

32.5%

42.5%

0.609

Cân nặng (kg)

68.89±12.73

67.38±13.85

0.630

Hút thuốc (%)

13.5%

15.4%

0.817

Xạ trị (%)

12.1%

22.2%

0.269

Loại ung thư:

 

 

 

      Đại trực tràng

22.8%

30.0%

0.808

      Dạ dày

22.8%

16.7%

 

      Vú

14.2%

20.0%

 

      Khác

40.2%

33.3%

 

Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu của 2 nhóm

Về kết quả xét nghiệm hóa sinh: Đã có sự giảm đáng kể nồng độ TNF-α (p <0,001 ở nhóm Meriva® và p = 0,039 ở nhóm placebo), TGFβ (p <0,001 ở cả hai nhóm), IL-6 (p <0,001 ở cả hai nhóm), IL-8 (p = 0,001 trong nhóm Meriva® và p <0,001 trong nhóm placebo), hs-CRP (p <0,001 trong nhóm Meriva® và p = 0,039 ở nhóm placebo), CGRP (p <0,001 ở cả hai nhóm) và MCP-1 (p <0,001 ở nhóm Meriva® và p = 0,031 trong nhóm giả placebo) ở cả hai nhóm nghiên cứu. Chất P trong huyết thanh là chỉ giảm trong nhóm Meriva® (p <0,001) trong khi vẫn không thay đổi về mặt thống kê ở nhóm placebo (p> 0,05). Về chất lượng cuộc sống: đã có sự tăng lên đáng kể về điểm số QoL ở cả 2 nhóm sau khi kết thúc thử nghiệm (p<0.001) (Bảng 2).

 

Curcuminoids (Meriva®)

Placebo

Trước

Sau

P

Trước

Sau

P

QoL

41.67±5.98

75.90±3.51

<0.001

69.69±3.66

75.31±4.08

<0.001

TNF-α (pg/ml)

28.03±2.67

15.74±2.71

<0.001

27.05±4.13

25.33±3.05

0.039

TGFβ (pg/ml)

42.82±5.71

16.87±6.97

<0.001

40.49±4.14

33.21±4.32

<0.001

IL-6 (pg/ml)

1.55±2.30

0.61±0.20

<0.001

1.57±0.48

1.31±0.44

<0.001

IL-8 (pg/ml)

21.64±2.43

19.78±2.31

0.001

26.23±4.36

21.38±3.98

<0.001

Chất P (pg/ml)

6.02±1.45

4.89±1.18

0.001

4.76±1.23

4.72±1.66

0.843

hs-CRP (mg/l)

6.96±1.88

4.63±2.18

<0.001

8.54±1.64

7.92±1.72

0.039

CGRP (pg/ml)

34.08±9.11

20.17±6.97

<0.001

41.64±3.88

36.18±7.03

<0.001

MCP-1 (pg/ml)

134.23±8.38

120.90±8.22

<0.001

121.77±6.43

123.82±7.47

0.031

Bảng 2: Kết quả xét nghiệm hóa sinh và điểm số chất lượng cuộc sống ở 2 nhóm trước và sau thử nghiệm.

Từ viết tắt: QoL (quality of life); TGFβ (transforming growth factor-β); IL-6 ( interleukin 6); IL-8 (interleukin 8); hs-CRP (high-sensitivity C-reactive protein); CGRP (calcitonin gene-related peptide); MCP-1 (monocyte chemotactic protein-1)

So sánh về sự thay đổi thông số hóa sinh và điểm số chất lượng cuộc sống sau thử nghiệm giữa 2 nhóm cho thấy: Sự cải thiện chất lượng cuộc sống (QoL) trong nhóm sử dụng Meriva® lớn hơn trong nhóm placebo (p<0.001); Mức độ giảm TNF-α (p <0.001), TGFβ (p <0,001), IL-6, chất P (p = 0,005), hs-CRP (p <0,001), CGRP (p <0,001) và MCP-1 (p <0,001) trong nhóm Meriva®  đều lớn hơn đáng kể so với nhóm placebo. Ngược lại, mức độ giảm IL-8 ở nhóm placebo lớn hơn đáng kể so với nhóm Meriva® (p = 0.012). (Bảng 3)

 

Curcuminoids

Placebo

p

QoL

34.23±8.23

5.62±5.02

<0.001

TNF-α (pg/ml)

-12.32±3.97

-1.72±5.00

<0.001

TGFβ (pg/ml)

-25.95±8.61

-7.28±5.98

<0.001

IL-6 (pg/ml)

-0.93±2.31

-0.26±0.37

0.061

IL-8 (pg/ml)

-1.86±3.16

-4.85±6.41

0.012

Chất P (pg/ml)

-1.12±1.85

-0.04±1.36

0.005

hs-CRP (mg/l)

-2.33±2.19

-0.62±1.80

<0.001

CGRP (pg/ml)

-13.91±4.67

-5.46±7.94

<0.001

MCP-1 (pg/ml)

-13.33±8.75

2.05±5.73

<0.001

Bảng 3: So sánh sự thay đổi thông số sinh hóa và chất lượng cuộc sống sau thử nghiệm ở cả 2 nhóm.

Từ viết tắt: QoL (quality of life); TGFβ (transforming growth factor-β); IL-6 ( interleukin 6); IL-8 (interleukin 8); hs-CRP (high-sensitivity C-reactive protein); CGRP (calcitonin gene-related peptide); MCP-1 (monocyte chemotactic protein-1)

Sự khác nhau giữa mức độ thay đổi điểm QoL trung bình của những đối tượng không dùng xạ trị và những đối tượng có xạ trị trong mỗi nhóm là không đáng kể (p>0.05). Tương tự, cũng không có sự khác biệt về mức độ thay đổi điểm QoL trung bình trong mỗi nhóm sau khi phân tầng theo loại ung thư (p>0.05). Nhìn một cách tổng thể, khi phân tầng bệnh nhân theo loại ung thư hoặc phân tầng theo xạ trị thì mức độ thay đổi điểm QoL trong từng phân tầng ở nhóm dùng Meriva® lớn hơn ở nhóm placebo (Bảng 4).

 

Curcuminoids

Placebo

p

Loại ung thư

 

 

 

        Đại trực tràng

35.00±5.73

4.62±5.85

<0.001

        Vú

38.8±3.56

4.67±4.76

<0.001

        Dạ dày

27.71±13.07

5.40±5.77

  0.005

        Khác

35.44±6.64

6.31±4.53

<0.001

Xạ trị đồng thời

 

 

 

       Có

35.25±8.66

3.43±4.89

<0.001

       Không

33.41±8.63

6.04±5.22

<0.001

        P

>0.05

>0.05

 

Bảng 4: So sánh sự thay đổi về chất lượng cuộc sống giữa các phân tầng khác nhau trong nhóm curcuminoids và nhóm placebo
theo loại ung thư và được xạ trị đồng thời

Như vậy, kết quả của nghiên cứu đã cho thấy tác dụng bổ trợ của Meriva®-Curcuminoids phytosome trong việc làm tăng đáng kể chất lượng cuộc sống của người bệnh được chẩn đoán có khối u rắn. Đồng thời, Meriva® cũng làm giảm đáng kể nồng độ các chất trung gian hóa học gây viêm. Kết quả này góp phần ghi nhận tiềm năng của Curcuminoids đối với việc hỗ trợ điều trị ung thư với khối u rắn.

 

Thiên Nguyên - Đồng hành cùng Doanh nghiệp

Nguyên liệu ngành Dược & TPCN