callpc

Sử dụng chế phẩm hỗn hợp vách tế bào lợi khuẩn trong chăn nuôi lợn thịt tại Nghệ An

Sử dụng chế phẩm hỗn hợp vách tế bào lợi khuẩn trong chăn nuôi lợn thịt tại Nghệ An

    Sử dụng chế phẩm hỗn hợp vách tế bào lợi khuẩn trong chăn nuôi lợn thịt tại Nghệ An

    Nguyễn Đình Tường1, Võ Thị Hải Lê1, Nguyễn Thị Thu Hiền1

    Trần Thị Cúc1, Nguyễn Đình Tiến1, Nguyễn Trung Uyên2

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, những bệnh đường tiêu hóa liên quan đến các vi sinh vật có hại là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm năng suất và là mầm bệnh nguy hại cho sức khỏe con người (Patterson và cs, 2003). Việc nghiên cứu và sử dụng những chất bổ sung lợi khuẩn đang là một đòi hỏi cấp bách, trong đó một trong các chất bổ sung được quan tâm nghiên cứu và sử dụng nhiều là probiotic. Probiotic bổ sung các vi khuẩn có lợi, và giúp cân bằng vi sinh đường ruột, giúp cơ thể vật nuôi khỏe mạnh. Tuy nhiên, bổ sung vi khuẩn sống probiotic gặp phải một trở ngại lớn là khi vào đến dạ dày, những lợi khuẩn có thể bị tiêu diệt tới 70% trong axit dịch vị làm cho tác động lên hệ tiêu hóa và miễn dịch của chúng bị giảm đáng kể. Để giải quyết vấn đề này, các nhà khoa học đã nghĩ tới sử dụng lớp thành tế bào vi khuẩn, để vừa có thể vượt qua được lớp hàng rào axit dịch vị dạ dày, vừa tạo ra những kích thích miễn dịch vượt trội, mà vẫn đáp ứng được yêu cầu cân bằng hệ vi khuẩn có ích trong đường ruột.

    Sử dụng chế phẩm hỗn hợp vách tế bào lợi khuẩn trong chăn nuôi lợn thịt tại Nghệ An

    Vách tế bào (VTB) lợi khuẩn chứa những phân tử peptidoglycan rất bền và ổn định của thành tế bào vi khuẩn với lượng vi bào rất lớn, tương đương 3-3,5 tỷ trong 100mg. Bổ sung hỗn hợp vách tế bào lợi khuẩn làm tăng tỷ lệ chiều cao vi nhung đường ruột/sâu tuyến ruột, từ đó làm tăng khả năng tiêu hóa, hấp thu thức ăn, mặt khác làm giảm vi sinh vật có hại trong đường ruột (E. Coli và Coliform), có xu hướng làm tăng mật độ tổng vi sinh vật hiếu khí và Lactobacillus spp, từ đó làm giảm tỷ lệ các bệnh thông thường (hội chứng tiêu chảy và hội chứng hô hấp) (Trần Hiệp và cs., 2021).

    Trong bối cảnh hiện nay, khi việc sử dụng kháng sinh dần bị cấm và dịch bệnh do virus, việc sử dụng VTB với mục tiêu kép: kích thích sinh trưởng, tăng cường miễn dịch của vật nuôi và an toàn với môi trường là một hướng đi mới bền vững. Đó là lý do nhóm nghiên cứu triển khai dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm hỗn hợp VTB lợi khuẩn trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Nghệ An”.

    II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP

    1. Đối tượng, địa điểm

    - Nghiên cứu được thực hiện trên lợn lai F1 (Du x YL), nuôi từ cai sữa đến xuất chuồng, thời gian nuôi từ 117-148 ngày.

    - Quy mô của mô hình dự án nuôi 60 con/lứa/trang trại x 02 lứa x 03 trang trại. Áp dụng hai hình thức: phối trộn chế phẩm vách tế bào lợi khuẩn vào thức ăn và hòa nước uống, cụ thể: Mỗi trang trại có 30 con trộn chế phẩm vào thức ăn và 30 con pha nước uống. Quy mô nuôi đối chứng, nuôi dưỡng theo quy trình của các trang trại từ 30-40 con/lứa/trang trại.

    - Thức ăn: sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh theo quy trình của trang trại, bổ sung chế phẩm VTB với liều lượng 0,05%/kg thức ăn theo 02 hình thức trộn vào thức ăn cho ăn và pha với nước cho uống.

    - Địa điểm: Tại 03 trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Nghi Lộc và huyện Nam Đàn.

    2. Thiết kế thí nghiệm

    Lợn thí nghiệm được bố trí hoàn toàn vào 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 180 con, được chia làm 5-6 ô, mỗi ô 30-42 con. Lợn ở lô đối chứng (ĐC) và lô thí nghiệm cho ăn (CA), lô thí nghiệm cho uống (CU) được nuôi bằng ba khẩu phần khác nhau: khẩu phần cơ sở (0%), khẩu phần bổ sung 0,05% hỗn hợp VTB lợi khuẩn vào thức ăn, khẩu phần bổ sung 0,05% hỗn hợp VTB lợi khuẩn vào nước uống (bảng 1). Mức bổ sung hỗn hợp VTB lợi khuẩn dựa trên nghiên cứu của Trần Hiệp và cs. (2021).

    Lợn thí nghiệm được nuôi trong điều kiện chuồng hở, nuôi trên sàn, cung cấp nước uống tự do bằng van uống tự động

    Bảng 1. Bố trí thí nghiệm

    Nghiệm thức

    Chỉ tiêu

    Đối chứng

    (ĐC)

    Thí nghiệm

    cho ăn (CA)

    Thí nghiệm

    cho uống (CU)

    Số lượng lợn/ô thí nghiệm

    30-41

    30

    30

    Số ô thí nghiệm

    5

    6

    6

    Khối lượng lợn thí nghiệm (kg)

    7,23-13,79

    7,51-9,98

    7,51-9,96

    Thời gian thí nghiệm (ngày)

    117-148

    125-149

    125-149

    Vách tế bào lợi khuẩn

    0

    0,05%

    (trộn thức ăn)

    0,05%

    (pha nước uống)

    Thức ăn hỗn hợp

    Theo quy trình của các trang trại

    Hỗn hợp VTB lợi khuẩn Lactobacillus rhamnosus và Sacchromyces cerevisiae (β-glu can ≥ 5%). Hỗn hợp VTB lợi khuẩn được nghiên cứu và sản xuất bởi Viện Thực phẩm chức năng. Lactobacillus rhamnosus được lên men, thu sinh khối, sau đó sử dụng hệ enzyme đặc hiệu phá vỡ cấu trúc tế bào của vi khuẩn, tách lọc và thu được các VTB dưới dạng các phân tử Peptydoglycan. Sacchromyces cere visiae được lên men sinh khối bằng phương pháp enzyme đặc hiệu thu được các vách nấm men dưới dạng β-glucan1/3-1/6. Sản phẩm thu được từ hai quá trình trên được sấy khô và trộn theo tỷ lệ phù hợp theo quy trình của Viện Thực phẩm chức năng

    3. Chỉ tiêu theo dõi

    - Khối lượng lợn trước khi thí nghiệm (kg).

    - Khối lượng lợn sau khi kết thúc thí nghiệm (kg).

    - Tăng khối lượng bình quân/ngày (TKL, g/con/ngày).

    - Tổng lượng thu nhận thức ăn của lợn (kg).

    - Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (TTTA, kg).

    - Tỷ lệ mắc các bệnh trên lợn (%).

    4. Phương pháp xác định các chỉ tiêu

    - Thức ăn cho lợn được cân hàng ngày; cân thừa thức ăn trong máng ngày kết thúc thí nghiệm bằng cân chuyên dụng; số liệu được cập nhật hàng ngày vào sổ theo dõi.

    - Cân khối lượng lợn tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm và tại thời điểm kết thúc thí nghiệm bằng cân chuyên dụng. Số liệu được cập nhật hàng ngày vào sổ theo dõi số liệu.

    - Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể (kg) = Tổng thức ăn tiêu thụ trong kỳ (kg)/(khối lượng cơ thể cuối kỳ - khối lượng cơ thể đầu kỳ)

    - Theo dõi ghi chép số lợn mắc bệnh tiêu chảy, viêm phổi và các bệnh khác ở các lô thí nghiệm bằng quan sát trực tiếp hàng ngày của cán bộ theo dõi thí nghiệm. Tỷ lệ mắc bệnh được tính theo hướng dẫn của Liu và cs (2017): Tỷ lệ mắc bệnh = ∑ (số lợn mắc bệnh x số ngày mắc bệnh)/∑ (số lợn thí nghiệm x số ngày thí nghiệm) x 100

    III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

    1. Kết quả thực hiện mô hình chăn nuôi lợn thịt tại trại chăn nuôi Nghi Trung - Nghi Lộc- Nghệ An

    1.1. Tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn

    Ở vụ thứ nhất, khối lượng ban đầu của đàn lợn lớn nhất thuộc về nhóm được cho ăn chế phẩm hỗn hợp VTB lợi khuẩn (CA), tiếp đến là nhóm được cho uống VTB (CU), và thấp nhất ở đàn đối chứng (ĐC). Khối lượng xuất chuồng cao nhất cũng thuộc về đàn CA, vượt 19,3 kg/con so với đàn ĐC, trong khi đàn CU có khối lượng xuất chuồng cao hơn 11,7 kg/con so với đàn ĐC.

    Sang vụ thứ hai, khối lượng ban đầu của cả ba nhóm (ĐC, CA, CU) tương đương nhau, nhưng khối lượng xuất chuồng vẫn cao nhất ở đàn CA, thấp nhất ở đàn ĐC. Đàn được cho ăn VTB có khối lượng xuất chuồng cao hơn 4,7% so với đàn ĐC. Xét về mức độ tăng trưởng (chênh lệch giữa khối lượng kết thúc và khối lượng ban đầu), đàn CA và CU đều có mức tăng cao hơn đàn ĐC. Cụ thể, tỷ lệ tăng trưởng của đàn sử dụng VTB so với đàn không sử dụng dao động từ 11,2-19,6% ở vụ thứ nhất và từ 3,3-4,9% ở vụ thứ hai.

    Lượng thức ăn thu nhận ở vụ đầu tiên, đàn lợn sử dụng VTB cao hơn so với đàn ĐC. Tuy nhiên, sang vụ thứ hai, lượng thức ăn thu nhận của đàn ĐC lại vượt qua đàn sử dụng VTB. Theo nghiên cứu của Trần Hiệp và cs. (2021), chế phẩm VTB không có tác động đáng kể đến lượng thức ăn thu nhận của lợn thịt. Do đó, ảnh hưởng của VTB lên khả năng tiêu thụ thức ăn của đàn lợn vẫn chưa rõ ràng và có thể chịu tác động của nhiều yếu tố khác như điều kiện chăm sóc, khẩu phần ăn, môi trường chuồng trại.

    Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở đàn lợn sử dụng VTB vượt trội hơn so với đàn đối chứng trong cả hai vụ nuôi, dao động từ 2,24-2,44. Việc bổ sung VTB giúp cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn, góp phần giảm FCR từ 3,5-6%. Điều này chứng minh rằng VTB có vai trò quan trọng trong việc ổn định hệ vi sinh vật đường ruột của vật nuôi, giúp cân bằng năng lượng và protein tốt hơn, đồng thời tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng thức ăn.

    Thành phần VTB lợi khuẩn có thể kích thích sự phát triển của hệ thống vi lông nhung ruột, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hấp thu dinh dưỡng. Khi protein được tiêu hóa và hấp thu hiệu quả, nó trở thành nền tảng cho quá trình tổng hợp protein trong cơ thể. Bên cạnh đó, các enzyme tiêu hóa gluxit, protein và lipid cũng được tăng cường tiết ra, do hầu hết enzyme đều có bản chất là protein, nhờ đó quá trình tiêu hóa và hấp thu gluxit, lipid cũng được cải thiện đáng kể. Trần Hiệp và cs. (2021) cho biết, bổ sung VTB lợi khuẩn không ảnh hưởng tới lượng thức ăn thu nhận nhưng làm tăng tốc độ sinh trưởng (3,1% đến 6,9%). Đặng Thị Ngọc Trúc và cs. (2021) cho biết bổ sung chế phẩm β-glucan vào thức ăn của lợn giai đoạn tăng trưởng làm tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và hấp thu dưỡng chất, góp phần làm lợn tăng trưởng nhanh hơn.

    Khi so sánh lô CA và lô ĐC về tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn, kết quả cho thấy đàn CA có khối lượng kết thúc, tổng khối lượng tăng và tốc độ tăng trưởng trung bình ngày (ADG) cao hơn 4,0% so với đàn CU. Về tổng thức ăn thu nhận, đàn CA tiêu thụ ít hơn 0,93 kg/con so với đàn CU, trong khi hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) của đàn CA đạt 2,34, thấp hơn đàn CU (2,40), cho thấy khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

    1.2. Đánh giá tỷ lệ mắc một số bệnh thông thường tại mô hình

    Kết quả theo dõi cho thấy, tổng số ngày lợn có bệnh và tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn ở đàn ĐC có cao hơn so với đàn CA và đàn CU. Điều này chứng tỏ chế phẩm VTB lợi khuẩn có tác động tích cực đến sức đề kháng của lợn, lợn có thể mắc bệnh nhưng với số lượng và số ngày mắc bệnh thấp hơn. Ở vụ thứ nhất, hội chứng tiêu chảy đàn CA, CU bị mắc lúc chuyển từ đàn cai sữa sang (chưa sử dụng hỗn hợp VTB), nên tỷ lệ mắc bệnh có cao hơn so với đàn ĐC.

    2. Kết quả thực hiện mô hình chăn nuôi lợn thịt tại trại chăn nuôi Hùng Tiến - Nam Đàn - Nghệ An

    2.1. Tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn

    Kết quả nghiên cứu cho thấy khối lượng kết thúc của đàn CA (105,87-127,97kg) và đàn CU (102-125,37kg) đều cao hơn so với đàn ĐC (101,55kg). Bên cạnh đó, khối lượng tăng ở đàn CA và CU cũng vượt trội so với đàn ĐC, đặc biệt trong vụ nuôi thứ hai, mức tăng trưởng cao hơn đáng kể so với vụ đầu tiên. Nguyên nhân có thể là do chất lượng giống được cải thiện, sử dụng thức ăn có uy tín như Cargill và điều kiện thời tiết thuận lợi. Hiệu quả chuyển hóa thức ăn (FCR) ở vụ nuôi thứ hai cũng tốt hơn, với giá trị 2,03-2,11. Đàn CA và CU đều có FCR tốt hơn so với đàn ĐC (2,61). Điều này cho thấy hỗn hợp VTB lợi khuẩn đã giúp ổn định hệ vi sinh vật đường ruột, tăng tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng, từ đó nâng cao năng suất và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn.

    Phạm Tất Thắng (2011) bổ sung từ 0,03 0,04% probiotic cho lợn thịt đã cho kết quả FCR rất thấp (2,13kg/kg tăng khối lượng). Zhang và cs. (2023) cũng xác nhận rằng probiotic làm tăng hiệu quả chuyển hóa thức ăn và giảm lượng chất thải trong chăn nuôi lợn. Kyeongho Jeon và cs., (2024) đã chứng minh rằng bổ sung probiotic phức hợp cải thiện đáng kể hiệu suất tăng trưởng, khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng, chỉ số máu, độ chín của phân, giảm khí thải, và hệ vi sinh đường ruột ở lợn tốt hơn so với bổ sung đơn lẻ hoặc không bổ sung. Tuy nhiên, việc bổ sung pro biotic phức hợp vẫn chưa được nghiên cứu nhiều, do đó cần có thêm các nghiên cứu khác.

    Khi so sánh giữa đàn CA và đàn CU, kết quả cho thấy đàn CA có sự phát triển tốt hơn so với đàn CU. Khối lượng kết thúc nuôi của đàn CA cao hơn khoảng 2,84%, tổng khối lượng tăng cũng vượt trội hơn 3,3kg. Đáng chú ý, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của đàn CA thấp hơn 0,91% so với lô CU, cho thấy hiệu suất sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

    2.2. Đánh giá tỷ lệ mắc một số bệnh thông thường tại mô hình

    Đàn ĐC vẫn ghi nhận một số ca mắc bệnh, với tỷ lệ hội chứng tiêu chảy là 0,12% và các bệnh khác là 0,5%. Ngược lại, lô sử dụng chế phẩm VTB hoàn toàn không có trường hợp mắc bệnh, cho thấy chế phẩm này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe đường ruột và nâng cao sức đề kháng cho lợn.

    3. Kết quả thực hiện mô hình chăn nuôi lợn thịt tại trại chăn nuôi Nam Thanh - Nam Đàn- Nghệ An

    3.1. Tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn

    Kết quả theo dõi tốc độ sinh trưởng của đàn lợn cho thấy, ở vụ thứ nhất khối lượng bắt đầu nuôi của đàn ĐC cao hơn đàn CA và CU từ 5,1 - 5,3kg/con, nhưng khối lượng kết thúc gần tương đương nhau, thậm chí đàn CU khối lượng có cao hơn. Tổng khối lượng tăng của đàn bổ sung chế phẩm VTB đều cao hơn so với đàn ĐC gần 3,34-7,12 kg/con. FCR của đàn bổ sung chế phẩm VTB có hiệu quả rõ rệt từ 2,29 2,33 so với đàn ĐC là 2,42. Tỷ lệ sống của đàn ĐC đạt 95% trong khi đàn CA và CU đều đạt 100%.

    Ở vụ nuôi thứ hai, khối lượng bắt đầu nuôi giống nhau, tuy nhiên khối lượng ban đầu tương đối thấp nên ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng (do giai đoạn này giống lợn khan hiếm nên khó mua, ít sự lựa chọn). Kết thúc nuôi, khối lượng đàn CA và đàn CU đều cao hơn 3,4-5,6%. Tổng khối lượng tăng của đàn CA là cao nhất, tiếp đến đàn ĐC và thấp nhất đàn CU. FCR của đàn CA và CU đều tốt hơn so với đàn ĐC. Đối với đàn lợn có khối lượng ban đầu thấp và yếu, chế phẩm VTB có tác động rất rõ đến tỷ lệ sống, cụ thể đàn ĐC tỷ lệ sống 71%, thấp hơn so với đàn CA (90%), đàn CU (87%).

    Các nghiên cứu trước đây, bao gồm nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy và Huỳnh Thị Thắm (2016), đã chỉ ra rằng việc bổ sung β-glucan giúp lợn tăng trọng tốt hơn so với nghiệm thức đối chứng. Thành phần này không chỉ thúc đẩy tốc độ sinh trưởng mà còn có xu hướng làm tăng lượng thức ăn tiêu thụ, từ đó cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn trong suốt quá trình nuôi (Hahn và cs., 2006; Phùng Thăng Long và cs., 2011; Park và cs., 2018).

    Ở đàn CA các kết quả về tổng khối lượng tăng, tăng khối lượng đều cao hơn đàn CU. Chỉ tiêu lượng thức ăn thu nhận và hệ số chuyển hóa thức ăn của đàn CA tốt hơn đàn CU. Như vậy, các chỉ tiêu quan trọng về sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của đàn CA đều tốt hơn đàn CU, tương tự như đàn lợn tại trại Nghi Trung và Hùng Tiến.

    3.2. Đánh giá tỷ lệ mắc một số bệnh thông thường tại mô hình

    Việc bổ sung chế phẩm hỗn hợp VTB lợi khuẩn trong chăn nuôi lợn thịt mang lại những lợi ích rõ rệt, đặc biệt là trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh. Tỷ lệ mắc bệnh, đặc biệt là các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, giảm đáng kể ở đàn lợn được bổ sung chế phẩm, trong khi số ngày mắc bệnh và tỷ lệ mắc bệnh lại cao ở nhóm không sử dụng.

    IV. KẾT LUẬN

    Kết quả bổ sung hỗn hợp VTB vào khẩu phần cho lợn sau cai sữa đến xuất chuồng trong điều kiện trang trại tại tỉnh Nghệ An cho thấy chế phẩm đã phát huy tác dụng làm tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và hấp thu dưỡng chất, góp phần làm lợn tăng trưởng nhanh hơn, hạn chế được tỷ lệ mắc các bệnh thông thường. Kết quả tăng khối lượng và hệ số chuyển hóa thức ăn của đàn lợn bổ sung chế phẩm hỗn hợp VTB bằng hình thức cho ăn tốt hơn so với cho uống và đối chứng./.

     

    Tài liệu tham khảo:

    1. Hahn T.W., Lohakare J.D., Lee S.L., Moon W.K. and Chae B,J. (2006). Effects of supplementation of β-glucan on growth performance, nutrient digestibility, and immunity in weanling pigs. J. Anim. Sci, 84: 1422-1428.
    2. Trần Hiệp, Phạm Kim Đăng, Nguyễn Xuân Hoàng và Chu Mạnh Thắng (2021). Ảnh hưởng của bổ sung hỗn hợp vách tế bào lợi khuẩn Lactobacilus rhamnosus và Sac charomyces cerevisiae đến lượng thức ăn thu nhận, tăng khối lượng, năng suất và chất lượng thịt lợn. Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 19(11): 1462-1470.
    3. Kyeongho Jeon, Minho Song, Jihwan Lee, Hanjin Oh, Dongcheol Song, Seyeon Chang, Jaewoo An, Hyunah Cho, Sehyun Park, Hyeunbum Kim, Jinho Cho (2024). Ef fects of single and complex probiotics in growing-finishing pigs and swine compost. J Anim Sci Technol 2024; 66(4):763-780. DOI: jast.2023.e88.
    4. Liu G., Yu L., Martínez Y., Ren W., Ni H., Abdul lah Al-Dhabi N., Duraipandiyan V. and Yin Y. (2017). Dietary Saccharomyces cerevisiae Cell Wall Extract Supplementation Alleviates Oxidative Stress and Mod ulates Serum Amino Acids Profiles in Weaned Piglets. Hindawi Oxidative Medicine and Cellular Longevity Volume, Article ID 3967439. https://doi.org/10.1155/ 2017/3967439.
    5. Phùng Thăng Long, Đinh Thị Bích Lân và Hoàng Thị Như Hằng. (2011). Ảnh hưởng của Beta glucan trong khẩu phần ăn đến sinh trưởng và đáp ứng kháng thể kháng Mycoplasma Hyopneumoniae ở lợn con sau cai sữa. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2: 52-57.
    6. Park J.H., Lee S.I. and Kim I.H. (2018). Effect of dietary β-glucan supplementation on growth per foramce, nutrient digestibility, and characteristics of feces in weaned pigs. Journal of Applied Animal Re search, 46(1):1193-1197
    7. Patterson. J.A and Burkholder. K.M. (2003), Ap plication of prebiotics and probiotics in poultry produc tion, J. Animal Science, 82, pp. 627-631.
    8. Phạm Tất Thắng, Lã Văn Kính và Nguyễn Như Pho (2011), Nghiên cứu sử dụng probiotic, axit hữu cơ, chế phẩm thảo dược làm chất bổ sung thay thế kháng sinh trong thức ăn cho lợn thịt, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, chuyên ngành Chăn nuôi động vật Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam.
    9. Nguyễn Thị Thủy và Huỳnh Thị Thắm (2016). Ảnh hưởng của beta-glucan và bột đạm thủy phân từ phụ phẩm cá tra (Pangasius hypophthamus) trong khẩu phần đến tăng trưởng của heo con sau cai sữa. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 43b:74-81.
    10. Đặng Thị Ngọc Trúc, Trần Ngọc Bích, Trương Văn Hiểu, Nguyễn Thị Kim Quyên và Lê Quang Trung. (2021). Ảnh hưởng của β-glucan trong khẩu phần lên sự sinh trưởng và đáp ứng kháng thể kháng virus lở mồm long móng trên heo giai đoạn tăng trưởng tại tỉnh Bến Tre. Kỷ yếu Hội nghị khoa học Chăn nuôi Thú y toàn quốc 2021: 216-224.

     

    Nguồn: Đặc san KH&CN Nghệ An, số 05/2025

    Immunevets® là chế phẩm hỗn hợp vách tế bào lợi khuẩn Lactobacillus rhamnosusSaccharomyces cerevisiae được sử dụng trong đề tài nghiên cứu của Trường Đại học Nghệ An. Các kết quả từ nghiên cứu cho thấy, Immunevets®  giúp gia tăng tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn, làm giảm tỉ lệ mắc các bệnh thông thường ở lợn, từ đó giúp tăng doanh thu khi lợn xuất chuồng.

    Cụ thể, Immunevets® giúp:

    • Tăng khối lượng khi xuất chuồng thêm 19-22kg
    • Giảm hệ số chuyển đổi thức ăn FCR từ 3.5-6%
    • Giảm tỉ lệ mắc các bệnh thông thường về tiêu hóa (tiêu chảy) và hô hấp (viêm phổi)
    • Tăng số lượng kháng thể sau tiêm vaccine -> nâng cao hiệu quả sử dụng vaccine phòng các bệnh lở mồm long móng và bệnh tai xanh.
    • Tăng doanh thu thêm 44%
    • Tăng tỉ suất lợi nhuận thêm 9%

    Qua đó, Immunevets® góp phần nâng cao chất lượng lợn thịt, tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, đồng thời giúp hạn chế việc sử dụng hóa chất cấm dùng trong chăn nuôi có ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.

    Quý khách hàng là người chăn nuôi hoặc nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, có quan tâm và có nhu cầu tìm hiểu thêm về chế phẩm vách tế bào Immunevets®, xin liên hệ tới Công ty Cổ phần Dược phẩm Thiên Nguyên – đơn vị phân phối độc quyền và chịu trách nhiệm về sản phẩm:

    CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM THIÊN NGUYÊN

    Hotline: 094 780 5345 | Email: info@thiennguyen.net.vn

    Xem thêm các tài liệu khác về Immunevets®:

     
    Contact Me on Zalo